SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
2
8
9
7
3
6
Festival ĐCTTQG Bạc Liêu 2014 Thứ Tư, 02/04/2014, 14:40

20 Bản tổ cái gốc của Đờn ca tài tử Nam bộ

Đờn ca tài tử Nam bộ được hình thành bởi nhiều nguồn gốc. Nhưng cái gốc quan trọng và dễ nhìn thấy nhất chính là hai mươi bản tổ. Hai mươi bản tổ là nền tảng, là cơ bản để cho Đờn ca tài tử Nam bộ phát triển từ hơn trăm năm nay. Hai mươi bản tổ được phân làm bốn loại, bao gồm: Sáu Bắc (Lưu thủy trường, Phú lục, Xuân tình, Tây thi, Bình bán, Cổ bản); ba Nam (Nam xuân, Nam Ai, Đảo ngũ cung); bốn Oán (Phụng hoàng, Phụng cầu, Giang nam, Tứ đại oán); bảy Bắc lớn (Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá, Xàng xê). Lưu thủy trường là bản đứng đầu hai mươi bản tổ.

               Hai mươi bản tổ hiện nay vẫn chưa thống nhất về tên gọi và số câu ở một số địa phương, điển hình là hai miền: Đông Nam bộ và Tây Nam bộ, (còn gọi là miền trên, miền dưới). Thí dụ: Miền Tây gọi: Phụng hoàng, Phụng cầu, Giang nam thì Miền Đông gọi: Phụng hoàng lai nghi, Phụng cầu hoàng duyên, Giang nam cửu khúc. Hoặc các bản bắc, miền dưới gọi vắn tắt là Xuân tình, Tây thi, Bình bán, Cổ bản; trong khi miền trên thường thêm chữ “trường” hay “chấn”, như Xuân tình chấn, Bình bán chấn… chỉ riêng bản Lưu thủy trường, hai miền gọi giống nhau. Về số câu cũng vậy, có một số bản vẫn chưa nhất quán với nhau.

Số lượng bài bản Đờn ca tài tử Nam bộ hiện nay đã có con số khá lớn, những bản thông dụng ngoài hai mươi bản tổ và ba bản Oán tân canh cũng có trên 50 bản. Nổi bật nhất là các bản Dạ cổ hoài lang, Liêu Giang… phổ thông nhất là các bản vắn: Lý con sáo, Ngựa ô bắc, Ngựa ô nam, Sương chiều, Tú anh, Trăng thu dạ khúc, Sâm thương, Khốc hoàng thiên, Hướng mã hồi thành… khó đàn khó ca là các bản Ngũ quan, Xái phỉ… Tất cả các bản này đều có kết cấu bởi các giọng: Ai, Xuân, Oán, Bắc, Bắc lớn… trong hai mươi bản tổ.
Điển hình như: Bản Dạ cổ hoài lang, tiền thân của bản Vọng cổ cũng là kết tinh của giọng Oán, giọng Ai. Liêu giang một bản tình ca nổi tiếng cũng được đúc kết bằng các giọng Xuân, Ai, Oán. Kể cả bốn bản được gọi là Tứ Bửu của miền Tây là Minh hoàng thưởng nguyệt, Phò mã giao duyên, Ngự giá đăng lâu và Ái tử kê cũng mang giọng Bắc…
Hai mươi bản tổ ra đời trước, mỗi bản đều có kết cấu độc lập, tất cả đều mang tính nghệ thuật cao nên được công nhận là hai mươi bản tổ, có vị trí cao nhất trong Đờn ca tài tử Nam bộ. Hai mươi bản tổ còn có công năng truyền tải những thông tin quan trọng trong hai thời kháng chiến, như các bài: La Văn Cầu, Phùng Ngọc Liêm, Lê Quang Vịnh, Mai Thanh Thế, Trận Tầm Vu… Trong giai đoạn hiện nay hai mươi bản tổ ngoài nhiệm vụ phục vụ văn nghệ giúp vui mọi người, còn góp phần phổ biến đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Hai mươi bản tổ của Đờn ca tài tử Nam bộ là món ăn tinh thần của người Nam bộ, vừa là công cụ truyền tải thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng vừa dùng để biểu hiện tính chất thật thà, trung hậu, nặng nghĩa, nặng tình của người Nam bộ trong mọi hoàn cảnh xã hội. Hai mươi bản tổ là sản phẩm tinh thần của tiền nhân, là di sản phi vật thể quí báu, chúng ta phải có bổn phận gìn giữ và phát huy. Năm 2014, tỉnh ta tổ chức Festival Đờn ca tài tử Nam bộ chính là cách thể hiện và phát huy tuyệt vời nhất những công lao của tiền nhân.
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin nêu ra hai đề xuất:
- Như trên đã nói, hai mươi bản tổ của miền Đông và miền Tây hiện nay có vài bản số câu không giống nhau. Thí dụ: Bản Ngũ đối thượng ở Bạc Liêu có 61 câu vì có thêm một câu ở vị trí thứ 53, còn các nơi khác không có câu này nên chỉ có 60 câu. Bản Đảo ngũ cung theo lối xưa khi đàn xong câu 52 thì tiếp theo là hai lớp Trống Nam xuân, nhưng theo sự cải tiến của Nhạc Khị thì thay vào đó hai lớp Mái Nam ai đàn dây hò 3, gọi là hai lớp Song cước và hai câu 51 và 52 cũng thay đổi cho hợp giọng… Ngoài ra, các bài bản ngoài 20 bản tổ cũng có vài bản số lượng câu không giống nhau. Các chi tiết này tuy không nhiều lắm, nhưng cũng nên lưu ý để tránh sự tranh cải khi thực hiện các cuộc thi sáng tác bài bản Đờn ca tài tử.  
- Về tên gọi bài bản của Đờn ca tài tử Nam bộ giữa hai miền cũng chưa thống nhất, vì vậy trong các văn bản có liên quan đến Đờn ca tài tử và các bài viết dùng để thuyết minh, cũng nên theo một hệ thống, không thể lúc thì gọi theo miền Đông, lúc gọi theo miền Tây. Thiển nghĩ ta nên gọi theo sách Ca nhạc cổ điển của Trịnh Thiên Tư là tốt nhất, vì đây là tác phẩm nghiên cứu cổ nhạc rất quan trọng trong tiền bán thế kỷ XX được nhiều người tín nhiệm, hai mươi bản tổ ghi trong sách này là hai mươi bản mà Nhạc Khị sau khi hiệu đính đã dùng để dạy học trò của mình như các ông: Cao Văn Lầu, Nguyễn Văn Bình, Lê Văn Túc (Ba Chột), Trịnh Thiên Tư, Trần Tấn Hưng, Lý Khi… Hiện nay, Nhạc Khị lại được giới Đờn ca tài tử các nơi tôn xưng là Hậu Tổ, cho nên theo sách này cũng là điều hợp lý.
Trần Phước Thuận

Số lượt người xem: 4718 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày