SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
3
9
4
0
8
9
Đặc san "Nhà báo & Nghề báo" Thứ Hai, 21/10/2019, 13:50

NHẠC SĨ CAO VĂN LẦU: Một nhân cách văn hóa

Chúng tôi đến thăm khu tưởng niệm Cao Văn Lầu tại TP. Bạc Liêu đúng vào thời điểm tỉnh Bạc Liêu đang tất bật các phần việc tổ chức kỷ niệm 100 năm ra đời bản Dạ cổ hoài lang (1919 - 2019). Những hiện vật được trưng bày cùng những câu chuyện được kể như đưa chúng tôi quay ngược thời gian để hiểu hơn về người nhạc sĩ tài hoa, mang một nhân cách lớn.

Khu lưu niệm nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu.                                  Ảnh: P.T.C

Nếu như bản Dạ cổ hoài lang đã đánh một dấu son trong lịch sử đờn ca tài tử và có ý nghĩa như một trong những viên gạch đầu tiên của ngôi nhà vọng cổ - cải lương Nam bộ bởi vẻ đẹp của ca từ lẫn giai điệu thì câu chuyện được xem là nguồn cơn ra đời bài ca ấy thật sự có sức lay động lòng người. Văn nghệ Việt Nam từng chứng kiến sự ra đời của những kiệt tác viết về phụ nữ bởi cánh mày râu, nhưng trớ trêu và độc đáo như Dạ cổ hoài lang thì quả là vô tiền khoáng hậu.

Cao Văn Lầu đã viết nên ca khúc sầu muộn này trong tâm trạng nhớ thương người vợ chậm con bị ruồng bỏ của mình. Không thể độc lực chống đối lại định kiến của lễ giáo, “tam niên vô tử bất thành thê”, cũng như vì chữ hiếu với song thân, nhạc sĩ họ Cao phải trả vợ về cho nhạc gia, để rồi bản thân phải trải qua những tháng ngày lẻ bóng, xót xa. Hành động bất đắc dĩ và tâm trạng hoài nhớ ấy đã đủ nói lên ông là một người sống nặng tình. Sự thấu cảm với nỗi nhớ nhung của người vợ xa chồng trong những đêm trường canh vắng để viết nên bản đàn lại càng tỏ rõ ông là một người hết sức sâu sắc, vị tha. Tấm lòng nhân hậu ấy có lẽ nhờ những ngày thơ ấu được tu dưỡng tại chùa Vĩnh Phước An, nơi cậu bé 8 tuổi, con trai ông Chín Giỏi được dạy những giáo lý nhà Phật. Tâm hồn rộng mở ấy còn được vun bồi bởi những năm học chữ Nho, chữ Quốc ngữ và cả tiếng Pháp. Những tháng ngày ấy tuy không nhiều nhưng đều đọng lại trong ông như những lớp trầm tích văn hóa. Đặc biệt, tính tình ấy còn được di dưỡng bởi dòng suối mát lành của âm nhạc dân tộc mà nhiều năm ròng, ông được ngụp lặn trong đó với lớp học và đoàn hát của nhạc sư tài ba và khó tính Hai Khị. Tất cả đã góp phần nhào nặn nên cốt cách Cao Văn Lầu, một cốt cách có sự dung nạp những tinh hoa của văn hóa dân tộc. Triết lý của đạo Nho đủ để ông hiểu những lề luật trong quan hệ cha - con, chồng - vợ nhưng cũng không biến ông thành một kẻ gia trưởng, vị kỷ. Giáo lý nhà Phật đủ khiến ông ăn ở một dạ với người vợ hiền chịu nhiều thiệt thòi để rồi 7 người con ra đời sau đó như sự linh diệu của luật nhân - quả. Chất nghệ sĩ chảy trong huyết quản đủ để ông có mặt trong hầu khắp các cuộc đờn ca tài tử, kể cả những buổi tiệc thâu đêm với những tay chơi như Công tử Bạc Liêu, nhưng vẫn không lay chuyển tấc lòng thủy chung của ông với người vợ tào khang và vẫn giữ ông ngoài vòng danh lợi, khi chỉ để lại gia tài cho con cháu là vài nhạc cụ từng theo ông. Có thể nói, Cao Văn Lầu chính là một “thanh âm trong trẻo” trong dòng nhạc cổ truyền của dân tộc. Đặt trong bối cảnh đất nước rơi vào vòng đô hộ của thực dân Pháp, thanh âm ấy càng có sức lan tỏa, ngân vang.

Bản Dạ cổ hoài lang của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu được nghệ sĩ Thanh Ngân trình bày tại Bạc Liêu.                                                     Ảnh: P.A

Bản nhạc do ông sáng tác khi mới ra đời đã được đón nhận nồng nhiệt không chỉ vì mang giá trị nhân đạo sâu sắc khi cất lên tiếng nói đồng cảm với thân phận của người phụ nữ, mà còn thể hiện tinh thần thời đại. Tâm trạng nhớ chồng của người chinh phụ dễ làm người nghe liên tưởng đến những trang nam nhi lìa xa thê tử, lặn lội nơi gió bụi sa trường để cứu nguy sơn hà trong phong trào Cần Vương. Sự cộng hưởng từ biểu tượng người tráng sĩ vung gươm ra trận trong nhiều ca khúc đầu thế kỷ XX của Lưu Hữu Phước, Văn Cao… lại càng hun đúc nhiệt huyết cứu nước. Có lẽ vì vậy mà Cao Văn Lầu từng bị Sở Mật thám Pháp nghi ngờ viết Dạ cổ hoài lang để kích động người dân chống chính quyền? Với tính cách ôn nhu như Cao Văn Lầu, cùng xuất xứ đặc biệt của bản nhạc, có thể khẳng định sự quy kết này là thiếu căn cứ. Bởi ngay cả khi ông trực tiếp tham gia cách mạng thì cái cách ông chống Pháp cũng hết sức tài tử. Được đề nghị tổ chức ca hát gần trại giam để thu hút bọn lính gác, Cao Văn Lầu đã trình diễn những ngón đàn tuyệt vời nhất của mình một cách say sưa, để các chiến sĩ cảm tử có thể tiếp cận trại giam, giải thoát các tử tù cách mạng. Như vậy, khi đất nước cần, ông đã góp sức bằng chính tài nghệ của mình, để rồi khi đã hoàn thành nhiệm vụ, ông vẫn gắn bó nghiệp cầm ca.

Có thể nói, Cao Văn Lầu đã đến và đi rất nhẹ nhàng nhưng dấu ấn ông để lại cho đờn ca tài tử nói riêng và di sản văn hóa dân tộc nói chung thật sâu đậm. Đó là đóng góp có tính chất đặt nền móng cho cải lương, vọng cổ về sau của Nam bộ, khi bản đàn nhịp đôi của ông đã được phát triển lên thành nhịp 4, nhịp 8 cho đến nhịp 64 như hiện nay. Đó còn là vì ông đã góp phần khẳng định bản sắc dân tộc bởi một nhân cách thanh cao, thể hiện qua cách hành xử thấm đẫm những giá trị văn hóa truyền thống mà dung dị đến khiêm nhường.

TS. NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH

(Trường đại học Cần Thơ)

Nguồn: Đặc san "Nhà báo & Nghề báo"

 


Số lượt người xem: 200 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày